Trang chủNhà ở

Đã xem: 828
An lành và hưng vượng cho cổng - cửa: Tránh hoặc hóa giải Hoàng tuyền

Nhà cửa phạm Hoàng tuyền thì nội khí không ổn định, từ trường ở các cửa xung phạm khiến kim la bàn hoặc con lắc (quả dọi) rung lắc liên tục, quỹ đạo tán loạn. Đó là những "xoáy từ trường" do âm dương mất quân bình và liên tục đảo chiều. Người nhà dễ mắc các bệnh ác tính về khí huyết, gây ung nhọt ác tính, rối loại nội tiết, các phủ tạng rối loạn chức năng; tinh thần mệt mỏi, đau ốm thất thường, thuốc thang vô hiệu.

Về vận khí, người sống lâu trong những ngôi nhà phạm hoàng tuyền dễ thay đổi tính nết, hay nóng nảy vô cớ, kiện tụng; dễ sa vào tệ nạn xã hội, tù tội, họa vô đơn chí.

Cổ nhân biết rõ sự hung hiểm của Hoàng tuyền nên đặc biệt thận trọng khi "khai môn phóng thủy". Trước khi cấp nước, mở cửa bao giờ cũng dùng la bàn định vị cẩn thận; lại căng dây hoặc vạch vẽ sơ đồ chi tiết. Trước tiên đặt la bàn tại tâm nền nhà để xem xét tương quan giữa hướng nhà với các vị trí mở cửa; sau lại đặt la bàn ở giọt tranh (tam cấp) hoặc hiên nhà để xem xét tương quan giữa hướng nhà với vị trí cổng, đường đi lối lại, cửa hành lang, cửa bếp và vị trí đào giếng. Vị trí nào xung phạm Hoàng tuyền thì lập tức điều chỉnh.

Dựa vào hướng nhà, quan hệ Hoàng tuyền xảy ra khi các tương quan nói trên rơi vào "Hoàng tuyền quyết pháp" như sau: Canh Đinh Khôn thường thị Hoàng tuyền. Ất Bính tu phòng Tốn thủy tiên. Giáp Quý hướng trung ưu kiến Cấn. Tân Nhâm thủy lộ phạ đương Kiền (Càn).

Theo đó, nhà hướng Khôn (Tây Nam), Hoàng tuyền ở cung Đinh và cung Canh. Nhà hướng Tốn (Đông Nam), Hoàng tuyền ở cung Ất và cung Bính. Nhà hướng Cấn (Đông Bắc), Hoàng tuyền ở cung Giáp và cung Quý. Nhà hướng Càn (Tây Bắc), Hoàng tuyền cung Tân và cung Nhâm.

Lý do phạm Hoàng tuyền như sau: Giáp, Canh, Nhâm, Bính là 4 thiên can thuộc Dương; Ất, Tân, Đinh, Quý là 4 thiên can thuộc Âm. Càn, Khôn, Cấn, Tốn gọi là tứ duy, là thiên can ở 4 góc (ngung) của trời đất.

Giáp, Canh, Nhâm, Bính hợp với 4 địa chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu (tứ chính). Theo nguyên lý trường sinh thì 4 phương này vừa vượng vừa là tử của 4 đại cục.

Ất, Tân, Đinh, Quý hợp với 4 địa chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (tứ bàng), theo nguyên lý trường sinh thì 4 phương này vừa là dưỡng vừa là mộ của 4 đại cục.

Càn, Khôn, Cấn, Tốn hợp với 4 địa chi Dần, Thân, Tị, Hợi (tứ ngung hay tứ duy), theo nguyên lý trường sinh thì 4 phương này vừa là trường sinh vừa là tuyệt bại của 4 đại cục.

Như vậy, phân tích câu quyết thứ nhất "Khôn Canh Đinh thị Hoàng tuyền để hiểu cơ chế phát sinh sát khí; làm cơ sở để hiểu các câu còn lại như sau: Nhà lập hướng Canh là vượng hướng của Kim cục, lâm quan sẽ ở cung Khôn, thủy (cổng cửa, đường đi, giếng nước...) là "thủy phá Lâm Quan" nên gọi là xung phạm Hoàng tuyền.

Nhà lập hướng Đinh là hướng dưỡng của thủy cục, trường sinh sẽ ở cung Khôn, thủy ở phương Khôn là "thủy phá Trường sinh" phạm Hoàng tuyền. Lập hướng Đinh, nhưng nếu ở Mộc cục thì cung Đinh lại là mộ, cung Khôn là tuyệt. Thủy lưu xung phá sẽ phạm Hoàng tuyền. Các quan hệ Hoàng tuyền còn lại cũng lý giải tương tự. Đây chính là điểm cốt yếu mà cụ Tả Ao căn dặn trong sách địa lý: Tiêu sa nạp thủy chớ nhầm một li. Nếu không biết phép tiêu sa nạp thủy hoặc đại khái khi lập hướng trong 4 phương Càn, Khôn, Cấn, Tốn thì rất dễ phạm Hoàng tuyền. Một số sách phong thủy và thần sát cho rằng Hoàng tuyền là "suối vàng", là nơi tử khí đương vượng. Khẩu quyết nói "Chúng thủy vô tòng thiên thượng khứ" nên Hoàng tuyền chỉ xuất hiện ở thiên can và tứ ngung, không xuất hiện ở địa chi.

Để dễ xác định, chúng ta có thể hiểu như sau: Mặt tiền (hướng) nhà là Cấn thì mở cửa, cấp thoát nước, đào giếng, cửa hành lang, đầu đường đi ở cung Giáp và cung Quý là phạm Hoàng tuyền; ngược lại, hướng nhà ở Giáp hoặc ở Quý thì Hoàng tuyền ở cung Cấn.

Nhà hướng Tốn thì Hoàng tuyền ở cung Ất, cung Bính và ngược lại. Nhà hướng Khôn thì Hoàng tuyền ở cung Đinh, cung Canh và ngược lại. Nhà hướng Càn thì Hoàng tuyền ở cung Tân, cung Nhâm và ngược lại.

Nhầm hướng nhà không tai hại bằng phạm Hoàng tuyền. Sát khí của Hoàng tuyền rất mạnh và phức tạp, khó khống chế. Nhưng gần đây một số trường phái phong thủy cho rằng có thể dùng bát quái để hóa giải, gọi là "sinh khí trấn". Chẳng hạn, nhà hướng Càn (chính giữa mặt tiền là cung Càn) mở cửa ở cung Tân thì lấy mã số địa của quẻ Đoài đặt vào trung cung Lạc thư - tức quẻ Đoài là tâm của ma phương. Từ đó các sao của 8 cung còn lại theo số của quẻ Đoài kết hợp với các sao vòng ngoài từng cặp, từng cặp thành sinh khí; hình thành một "tổng ma phương sinh khí" để trấn Hoàng tuyền (và cả Ngũ quỷ).

Lập xong treo ma phương tại vị trí phạm Hoàng tuyền để trấn giữ (trường hợp phạm Ngũ quỷ cũng treo ma phương ở vị trí xung phạm).

Lần lượt 12 vị trí có thể xảy ra xung phạm Hoàng tuyền đều lập ma phương theo cách nêu trên để trấn giữ: Cửa ở cung Nhâm phạm Hoàng tuyền thì lấy số của quẻ Khảm để lập ma phương (vì cung Nhâm thuộc quẻ Khảm); Ma phương treo tại Nhâm. Nếu hướng nhà ở cung Tân hoặc cung Nhâm thì cửa ở cung Càn phạm Hoàng tuyền, lấy số của quẻ Càn là 6 để lập ma phương, treo tại Càn.

Nhà hướng Cấn, mở cửa ở cung Quý thì lập ma phương theo số của quẻ Khảm; mở cửa ở cung Giáp thì lấy số của quẻ Chấn để lập ma phương; nhà hướng Quý hoặc hướng Giáp mở cửa ở cung Cấn thì lấy số của quẻ Cấn để lập ma phương.

Nhà hướng Tốn, mở cửa ở cung Ất thì lấy số của quẻ Chấn lập ma phương; mở cửa ở cung Bính thì lấy số của quẻ Ly để lập ma phương; nhà hướng Ất hoặc hướng Bính, mở cửa ở cung Tốn thì lấy số của quẻ Tốn để lập ma phương.

Nhà hướng Khôn, mở cửa ở cung Đinh thì lấy số của quẻ Ly để lập ma phương; mở cửa ở cung Canh thì lấy số của quẻ Đoài để lập ma phương; nhà hướng Đinh hoặc hướng Canh thì lấy số của quẻ Khôn để lập ma phương.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là khi hướng dẫn lập ma phương để trấn yểm, hóa giải Hoàng tuyền, các phái phong thủy này (phong thủy kỹ thuật số) không lý giải được cơ chế hóa sát, không có công thức để chỉ ra cơ chế ma phương có thể chặn được sát khí của Hoàng tuyền. Bản thân ma phương chỉ là những hình quẻ hoặc hình đồ biểu thị số quẻ dịch, không thể có "linh khí" trấn Hoàng tuyền.

Đối với Hoàng tuyền, từ xa xưa các đại sư phong thủy giàu kinh nghiệm hoặc các đạo sỹ đắc đạo cao tay cũng không thể dùng bùa phép để hóa giải. Hoàng tuyền gây sát đối với cả dương trạch (nhà cửa) và âm trạch (mồ mả). Do tính chất vô thường không thể khống chế của loại sát khí này, kinh điển phong thủy khuên rằng chỉ nên tránh, không nên trấn. Vì vậy, nếu chẳng may mở cửa, cấp thoát nước, mở cổng, làm đường, đào giếng đào ao, đặt non bộ... phạm Hoàng tuyền thì cách tốt nhất là xây bịt hoặc lấp lại, chọn mở ở vị trí khác không xung phạm./.

Nhất Thuận

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

MỚI CẬP NHẬT

XEM NHIỀU NHẤT