Đã xem: 386
Cách chọn ngày giờ khi lịch hiện đại lệch ngày

Nếu chọn ngày giờ, tháng năm theo số ngày, đồng thời "tham chiếu" tránh các quan niệm dân gian như "mùng năm mười bốn hăm ba, chớ đi ngày bảy chớ về ngày ba"... thì sẽ nhầm lẫn. Vậy chọn ngày giờ cho các hoạt động liên quan đến phong thủy, tâm linh theo lịch nào, nhất là khi người này xem sách Tàu, người kia theo lịch Việt Nam.

Thực tế trong lịch sử đã nhiều lần xảy ra tình trạng "vênh nhau" giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc. Gần đây nhất, tháng 6 ÂL năm Bính Tuất (2006) theo lịch Việt Nam thì sớm 1 ngày so với lịch Trung Quốc (1/6 so với 30/5); đến tháng Giêng năm Đinh Hợi (2007) ngày mùng 1 tết Nguyên Đán (17/2 dương lịch) theo lịch Việt Nam thì lịch Trung Quốc mới là ngày 30/12 ÂL năm 2006.

Sai lệch xảy ra do các nhà làm lịch lấy giờ quốc tế GMT cộng với múi giờ (là giờ tính theo dương lịch) để tính lịch âm. Trung Quốc lấy giờ GMT + 8; Việt Nam lấy giờ GMT + 7.

Lịch âm lấy ngày đầu tháng (không trăng) gọi là ngày Sóc để tính toán (theo chu kỳ mặt trăng). Năm 2006, ngày Sóc tháng sáu ÂL theo giờ GMT bắt đầu lúc 16g 06 phút ngày 25/6 dương lịch. Theo đó, giờ Sóc ở Việt Nam là 16g 06 + 7 = 23g 06 phút (vẫn thuộc ngày 25/6 dương lịch), nhưng ÂL đã là giờ Tý của ngày 1/6 âm lịch, tức tháng 5 âm lịch thiếu 1 ngày.

Ngược lại, lịch Trung Quốc lấy 16g 06 + 8 = 24g 06 phút nên ngày Sóc sẽ bắt đầu từ 0g 06 phút ngày hôm sau, tức là ngày 1/6 âm lịch theo lịch Trung Quốc đã chuyển sang ngày 26/6, tháng 5 âm lịch thành tháng đủ.

Đến tháng Giêng năm 2007, ngày Sóc GMT bắt đầu từ 16g15 phút, thì ngày Sóc theo lịch Việt Nam bắt đầu từ 23g15 phút (thuộc ngày 17/2 dương lịch), mùng 1 tết trùng với ngày 17/2; trong khi ngày Sóc theo lịch Trung Quốc bắt đầu từ 0g15 phút nên ngày mùng 1 tết rơi vào ngày 18/2. Tình trạng cũng xảy ra tương tự trong lịch âm tháng 10 năm 2018 và tháng 2 năm 2019.

Việc "kết hợp âm dương, quốc tế và khu vực" như trên dẫn đến lệch ngày giờ giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc. Ngày Sóc quy ra theo giờ GMT khác nhau nên không có một quy luật cố định nào (hoặc chưa phát hiện ra) cho các năm, các tháng; trong khi lịch dừ âm hay dương đều phải tính theo một quy luật nhất định thì mới tránh được sai lầm. Ngay cả chu kỳ "ăn tết sớm" so với lịch Trung Quốc năm 2007 cũng chỉ tính được là sẽ lặp lại vào năm 2030 và năm 2053; còn sau đó lại sai lệch không theo chu kỳ!

Dương lịch do người Tây tính toán cũng xảy ra và chưa khắc phục được "lỗi tháng hai" dương lịch (chỉ có 28 ngày, tháng nhuận 29 ngày). Nghĩa là người sinh vào ngày 29/2 trong 5 năm sẽ chỉ có 2 lần sinh nhật.

Quy đổi âm theo dương khi tính toán thì sẽ sai lệch. Từ xưa người Việt Nam cũng như người Trung Quốc đã tính lịch theo nhiều cách khác nhau; nhưng cuối cùng phải theo cách khoa học nhất.

Theo Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, lịch sử có nhiều giai đoạn người Việt sử dụng lịch của Trung Quốc nhưng cũng có nhiều thời kỳ tự tính âm lịch. Trước năm 939 Việt Nam chưa biết làm lịch. Từ năm 940 - 1078 dự đoán là dùng lịch như Trung Quốc. Từ 1080-1300 Việt Nam tự tính lịch riêng theo cách tính lịch của nhà Tống, nhưng có nhiều điểm khác biệt giữa hai bên. Khoảng năm 1306-1644 sử dụng lịch giống như lịch nhà Nguyên và nhà Minh. Từ 1645-1812 Việt Nam dùng lịch riêng, tính theo phép lịch Đại thống; trong khi nhà Thanh tính theo lịch "Thời Hiến"...

Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, lịch ở Việt Nam cũng có sự khác biệt và thay đổi giữa miến Nam - miền Bắc, ở thời Pháp thuộc so với thời chống Mỹ... Từ năm 1976 đến nay ta tính lịch âm theo múi giờ thứ 7, khác múi giờ với Trung Quốc như đã nêu ở phần trên.

Tuy nhiên, tất cả những thay đổi về cách tính lịch hiện đại đều không ảnh hưởng đến các hoạt động gắn với phong thủy, địa lý, tử vi và nhiều vấn đề khác trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của con người; vấn đề là phải chọn ngày giờ theo lịch con giáp hay lịch can - chi (tức chọn theo Thông thư, Ngọc hạp).

Trong phong thủy và thần học, việc chọn ngày giờ và dự đoán sử dụng lịch can chi và tiết khí. Ảnh hưởng của tiết khí là ảnh hưởng của âm dương ngũ hành; ảnh hưởng của can chi là ảnh hưởng của hệ tinh tú (trời - dương) và vị trí địa lý (đất - âm)  đối với con người và vạn vật.

Về hình thức thì lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc lệch nhau 1 ngày; nhưng tính theo giờ can chi thì chúng vẫn chung trong một giờ (giờ Tý từ 11g 00 phút ngày hôm trước tới 1g 00 phút ngày hôm sau). Sự sai lệch 15 phút của ngày Sóc được cổ nhân "hóa giải" bằng cách "giờ tốt 1 khắc" bắt đầu hành sự, tức là từ đầu giờ tốt cộng thêm 15 phút (1 khắc) chắc chắn là đúng giờ.

Lịch can chi tính theo tiết khí nên tháng gọi tên nguyệt lệnh (nguyệt kiến) và thiên can của tháng đó tính theo năm; ngày trong tháng tính theo can chi trên cơ sở căn cứ vào ngày Giáp Tý của tiết Đông chí và tiết Hạ chí; giờ tốt tính theo ngày.

Lịch can chi, lịch Hoàng Đạo và một số cách "độn" như độn lục nhâm, lục giáp, độn Khổng Minh...  đều tuân thủ nguyên lý âm dương ngũ hành và tiết khí - nguyệt lệnh nên việc chọn ngày giờ tốt là chọn các yếu tố âm dương ngũ hành của thời gian - không gian hợp với loại việc, thời tiết, vận khí (tuổi) của con người.

Đây chính là tính khoa học và lôgic của việc chọn lành tránh dữ; khác hẳn với việc sử dụng các chữ số để ghi ngày của lịch âm - dương... Do đó, mọi sự sai lệch của lịch Ta (Việt Nam), lịch Tây hay lịch Trung Quốc đều không ảnh hưởng đến phong thủy, địa lý và các hoạt động tâm linh khác; tất nhiên, với điều kiện là chúng ta không dùng những loại lịch hiện nay để chọn lựa ngày giờ./.

Nhất Thuận

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Sự hung hiểm của Bát sát và phương pháp hóa giải

Bát sát là loại sát khí rất nguy hiểm và khó hóa giải, hình thành do sự tương tác của âm dương ngũ hành trong tám hướng. Cổ nhân cho rằng thần thánh còn phải kỵ Bát sát, nên việc lựa chọn ngày giờ, định sơn lập hướng, làm nhà,...

MỚI CẬP NHẬT

XEM NHIỀU NHẤT