Đã xem: 144
Lưu ý khi chọn ngày cưới đại cát đại lợi

Ngày giờ không có tốt xấu, tốt xấu do âm dương, ngũ hành của ngày giờ đó trong tương quan với con người và sự việc cụ thể, cùng một ngày giờ nhưng có thể tốt với người A, việc A; không tốt với người B, việc B.

Âm dương ngũ hành của ngày giờ thường xuyên thay đổi, nên cổ nhân dùng can - chi để ghi chép ngày giờ để tính toán sự tốt xấu của nó. Chẳng hạn, năm nào cũng có ngày Lập xuân (tiết khí), nhưng tùy từng năm mà tiết lập xuân rơi vào ngày mùng 3, mùng 4 hoặc mùng 5 tháng Hai dương lịch. Nghĩa là việc dùng các con số như ngày 7, ngày 3, 22, 27... để lựa chọn ngày tốt là không đúng; tháng cũng không tính theo các số từ 1 đến 12 mà phải tính theo tiết khí. Mưa nắng, nóng lạnh, táo thấp... hoàn toàn phụ thuộc vào tiết khí.

Phong thủy Bát trạch dành một chương phân tích, hướng dẫn chi tiết nguyên tắc và phương pháp lựa chọn ngày cưới. Các sách Thông thư, Ngọc Hạp ký, Lữ Tài... cũng dành chương mục riêng hướng dẫn về việc này.

Đây là các sách công cụ để tra cứu, lựa chọn ngày giờ tốt, giống như tra từ điển, không phải là bí kíp hay bí mật gia truyền, tổ truyền...

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 hệ thống sách này bị lợi dụng, những kẻ du thủ du thực nổi lên làm thầy hoặc đội lốt sư sãi để lòe bịp dân chúng nên triều đình cho biên khảo lại Thông thư, Ngọc Hạp ký và khắc in, phát hành rộng rãi để chống "ngụy thư, man thư" (sách giả, lừa bịp).

Hiện nay các loại sách nói trên hầu như đều "tam sao thất bản" hoặc chép lại theo truyền miệng nên nhiều thiếu sót. Vì thế muốn chọn ngày cưới phù hợp, cần tìm những người có thể giải thích được vì sao phải kiêng kỵ hoặc những người sẵn sàng trả lời "việc đó tôi chưa biết rõ, xin trả lời sau"...

Xin nêu một ví dụ để minh họa cách xem xét: Nữ sinh năm Bính Dần (1986), chồng sắp cưới tuổi Nhâm Tuất (1982) có thể tháng 2 âm lịch vì đây là tháng đại lợi theo tuổi cô dâu. Cưới vào tháng đại lợi là "Giá thú ngộ cát kỳ, vô chư cấm kỵ" (Cưới gả trong tháng tốt, không có cấm kỵ). Nhưng có sách (thầy) lại bảo không cưới được vì phạm Cô hư!

Tránh phạm Cô hư và Hòa thượng sát (đúng), nhưng phải tra thêm "Nam nữ sinh thuộc Giáp Tuất, cưới tháng 1 hoặc tháng 2 phạm Cô hư". Trường hợp nêu trên nam tuổi Nhâm Tuất thuộc Giáp Dần, không phải Giáp Tuất nên cưới vào tháng 2 vẫn là tháng đại lợi, không phạm Cô hư.

Một trường hợp khác: Nữ tuổi Đinh Mão (1987) cưới tháng Giêng được đại lợi, cũng không phạm Cô hư, vì Đinh Mão thuộc Giáp Tý.

Về ngày Tam Nương sát, truyền thuyết nói rằng Nguyệt Lão không xe duyên cho Tam Nương nên bà luôn chống lại Nguyệt Lão, bằng cách gây bất lợi cho cô dâu nếu đón dâu phạm ngày Tam Nương.

Mỗi tháng có 6 ngày Tam Nương: Mùng 3, mùng 7; 13, 18 và 22, 27. Nhưng như chúng tôi đã phân tích ở trên, ngày theo con số là ngày "giả Tam Nương", phải căn cứ âm dương ngũ hành để xác định "Tam Nương thật". Ví dụ như ngày 22, nếu là ngày Bính Ngọ thì phạm Tam Nương, nếu không phải là ngày Bính Ngọ và là ngày tốt thì không phạm Tam Nương.

Cưới phạm ngày Tam Nương có thể hóa giải bằng bùa âm dương ngũ hành thông quan, âm dương ngũ hành bát quái (cô dâu đeo trên mình hoặc để ở đầu giường cưới). Nhiều nơi "đề phòng" Tam Nương bằng cách cho cô dâu trùm khăn màu đỏ khi đưa - đón dâu.

Trên thực tế, khi đã chọn ngày cưới trong tháng đại lợi thì "vô chư cấm kỵ". Chọn ngày cưới hỏi tuy phức tạp, nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nếu cưới đúng tháng đại lợi, ngày "bất tương", lại có Thiên Đức (dương), Nguyệt Đức (âm) và Tam Hợp, Lục Hợp (ngũ hành), Nguyệt Ân, Thiên Hỷ, Ích Hậu, Tục Thế,... thì mọi sát khí đều tự nhiên hóa giải, không có gì phải kiêng kỵ./.

Nhất Thuận

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Di cung hoán tượng để sinh vượng gia trạch

"Di cung hoán tượng" nhằm thay đổi hướng nhà hoặc sơn chủ hợp âm dương ngũ hành, tuổi chủ nhà, qua đó thúc đẩy sinh vượng. Phương pháp này đã được vận dụng, kiểm nghiệm thực tế từ hàng nghìn năm trước. Ngày nay nó càng đắc dụng trong bối...

MỚI CẬP NHẬT

XEM NHIỀU NHẤT